Suy nghĩ của anh, chị về ý kiến trên. Đề 2: Trong Sổ tay thơ Chế Lan Viên có viết: Bài thơ anh làm một nửa mà thôi Còn một nửa cho mùa thu làm lấy. Suy nghĩ của anh chị qua một số tác phẩm văn học. Đề 3: Tác phẩm văn học là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.
Đƣợc rèn luyện nhiều, học sinh sẽ cảm thấy không còn khó khăn, phức tạp khi tìm ý cho bài văn nghị luận. 4.2. Lập dàn ý: Lập dàn ý là một bƣớc quan trọng đƣợc thực hiện sau khi đã xác định đƣợc ý chính cho bài văn. Đây là công đoạn sắp xếp các ý vừa tìm
Giới thiệu vấn đề cần nghị luận lòng vị tha. Lòng vị tha chính là biểu hiện cao đẹp nhất phẩm chất nhân hậu của con người. Nó không đòi hỏi gì nhiều ngoài một trái tim biết chia sẻ vui buồn, biết yêu thương đồng loại. Thân bài #1. Giải thích khái niệm lòng vị tha Lòng bị tha là một đức tính biểu qua việc luôn quan tâm đến lợi ích của người khác.
>> Ngoài xem bài viết về nội dung CÁCH TÌM Ý VÀ LẬP DÀN Ý CHO BÀI VĂN GIẢI THÍCH - Nghị luận giải thích Ngữ Văn 7 này bạn có thể xem thêm nhiều bài viết liên quan đến các thông tin liên quan đến chủ đề học tập, giáo dục tại đây: Sanotovietnam.com.vn/hoc-tap. Vậy là bạn đã xem xong bài viết chủ đề dàn ý bài
Contents. 1 BẠN QUAN TÂM; 2 11 hình xăm đôi ý nghĩa cho tình yêu thêm lãng mạn - ELLE ; 3 Bài viết số 2 lớp 9 đề 1: Tưởng tượng 20 năm sau vào một ngày hè em về thăm lại trường cũ Dàn ý & 21 bài viết thư kể lại buổi thăm trường ; 4 Viết đoạn văn về lợi ích của việc học
III. Một số lưu ý khi làm bài. 1. Đọc kĩ đề -> phân tích đề: thể loại, nội dung, phạm vi tư liệu. - Thao tác lập luận: + Giải thích + Phân tích + Chứng minh + Bình luận + Bác bỏ + Thuyết minh. 2. Tìm ý. - Tìm ý lớn. - Triển khai ý lớn thành ý nhỏ. - Xác định ý chủ
Tìm hiểu các yếu tố tự sự trong văn nghị luận a) Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu: Sau nữa, việc săn bắt thứ "vật liệu biết nói" đó, mà lúc bấy giờ người ta gọi là "chế độ lính tình nguyện" (danh từ mỉa mai một cách ghê tởm) đã gây ra những vụ nhũng lạm hết sức trắng trợn. Đây!
Trên đấy là 10 bài mẫu tiểu luận chủ nghĩa xã hội khoa học và các cách viết bài tiểu luận chủ nghĩa xã hội khoa học được điểm cao, do Luận Văn Tốt soạn ra để gửi đến các bạn sinh viên đang tìm kiếm các bài tương tự để tham khảo viết bài tiểu luận cho mình
Vay Tiền Online Chuyển Khoản Ngay. Lượt xem 794 FINDING IDEAS FOR LITERARY DISCOURSE NGUYỄN BÍCH TRÂMTrường Cao đẳng Sư phạm Sóc Trăng TÓM TẮT Nghị luận văn học là một kiểu văn bản trọng tâm trong chương trình Ngữ văn các cấp. Để có một văn bản nghị luận hay, việc tìm kiếm ý tưởng là điều rất cần thiết. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều học sinh, sinh viên gặp khó khăn trong việc tìm kiếm các ý tưởng cho bài nghị luận văn học. Bài viết là một đóng góp của người viết nhằm hỗ trợ người học khắc phục khó khăn trong việc tìm ý tưởng cho kiểu văn bản này. Từ khóa Tạo lập văn bản, nghị luận văn học, ý tưởng. ABSTRACT Literary discourse is very important in school’s literacy program at all levels. In order to have a good text, finding the right ideas is essential. However, in reality, many students find it difficult to find ideas for writing literary discourse. This article makes a contribution to support students to overcome difficulties in finding ideas for the literary discourse text. Keywords Writing, literary discourse, ideas. xx x 1. Mở đầu Tạo lập văn bản là một kỹ năng quan trọng mà người học cần rèn luyện ngay từ trên ghế nhà trường bởi sự cần thiết của nó đối với thực tiễn cuộc sống của mỗi người. Chính vì vậy, tạo lập văn bản được xem là một trong những nội dung trọng tâm trong chương trình Ngữ văn các cấp. Các kiểu văn bản thuộc nhiều phong cách ngôn ngữ khác nhau như văn miêu tả, thuyết minh, tự sự, nghị luận, thư, đơn từ, hợp đồng… đã góp phần giúp người học hình thành kỹ năng tạo lập các văn bản thông dụng, cần thiết trong đời sống. Trong số những kiểu văn bản được giảng dạy trong nhà trường, nghị luận văn học là một trong những nội dung trọng tâm của tạo lập văn bản mà người học cần rèn luyện. Đây là một kiểu bài gắn liền với học sinh HS ở phổ thông qua các cấp học và tiếp tục là “bạn đồng hành” với nhiều sinh viên SV trong chương trình đào tạo của các ngành có liên quan đến Văn học. Tuy nhiên, hiện nay, rất nhiều người học không biết cách viết một bài nghị luận văn học. Một trong những biểu hiện của hạn chế đó chính là sự nghèo nàn về ý tưởng trong các bài viết. Trước thực tế đó, chúng tôi đã đi sâu tìm hiểu những khó khăn của người học trong việc tìm kiếm ý tưởng cho bài nghị luận văn học, qua đó đề xuất một số giải pháp hướng dẫn người học tìm ý tưởng để tạo lập kiểu văn bản nghị luận văn học đạt hiệu quả hơn. 2. Nội dung Một số vấn đề về tạo lập văn bản nghị luận văn học Tạo lập văn bản có vai trò vô cùng quan trọng đối với môn Ngữ văn trong nhà trường. Mục tiêu dạy tạo lập văn bản là phát triển năng lực cho người học năng lực lập luận, tư duy phân tích, tổng hợp, so sánh, phê phán, đánh giá, chứng minh, phản hồi, sáng tạo, phát triển kỹ năng giao tiếp, tạo lập văn bản theo đặc trưng từng kiểu văn bản, phát triển năng lực quan sát, tưởng tượng… Tiến trình tạo lập văn bản gồm bốn bước cơ bản nảy sinh ý tưởng; phát triển và hệ thống các ý tưởng; diễn đạt các ý thành đoạn văn, bài văn; chỉnh sửa, biên tập. “Điều cần lưu ý là các hoạt động trong giai đoạn này không hoàn toàn được thực hiện theo trình tự thời gian mà là sự đan xen của các hoạt động viết, xem lại, chỉnh sửa, viết… Nói cách khác là trong quá trình tạo lập văn bản, người viết thường xuyên trở đi trở lại các giai đoạn để xem lại, chỉnh sửa, kiểm soát các hoạt động viết” [1, tr. 118]. Nghị luận văn học là một kiểu văn bản trọng tâm trong nhà trường, thể hiện cả hai hoạt động chủ yếu của môn Ngữ văn là đọc hiểu văn bản và tạo lập văn bản. Vì vậy, việc dạy học kiểu bài này gắn liền với nhiệm vụ rèn luyện nhiều năng lực cho người học mà môn Ngữ văn phụ trách, trong đó có năng lực ngôn ngữ và năng lực thẩm mỹ. Bên cạnh đó, việc tạo lập tốt một văn bản nghị luận văn học còn thể hiện được khả năng tư duy của người viết, trong đó nổi bật là khả năng lập luận, thuyết phục người đọc bằng hệ thống các lý lẽ phong phú, dẫn chứng, minh họa xác đáng, liên tưởng sáng tạo, độc đáo. Để đạt được mục tiêu có được một bài nghị luận văn học hay, một bài viết cần đảm bảo những yêu cầu cơ bản sau Thứ nhất, đảm bảo những yêu cầu về bố cục của văn bản nghị luận. Bố cục một văn bản nghị luận trong nhà trường gồm ba phần chính, trong đó mở bài phải giới thiệu được vấn đề cần nghị luận, thân bài là phần trọng tâm gồm hệ thống các luận điểm, luận cứ để làm rõ vấn đề đặt ra ở mở bài, kết luận hệ thống lại vấn đề đã bàn bạc và liên hệ, gợi mở thêm. Thứ hai, bài viết đảm bảo “trả lời” được những vấn đề được đặt ra ở đề bài, thể hiện hiểu biết phong phú và sâu sắc của người viết về vấn đề đang bàn bạc và những vấn đề có liên quan về văn bản, về nhân vật, nội dung, nghệ thuật của tác phẩm, mảng sáng tác, giai đoạn, trào lưu văn học…. Thứ ba, liên quan mật thiết với yêu cầu về bố cục và nội dung văn bản, một bài viết tốt cần phải có sự hợp lý trong sắp xếp các luận điểm, sử dụng các luận cứ trong quá trình lập luận. Thứ tư, đảm bảo yêu cầu về diễn đạt, tức là sử dụng câu, từ phù hợp để thể hiện những ý tưởng muốn triển khai. Nghị luận văn học là kiểu văn bản có đối tượng nghiên cứu, khai thác là tác phẩm văn chương và hoạt động sáng tạo, tiếp nhận văn chương. Do đó, khi tạo lập kiểu văn bản này, ngoài những yêu cầu trên, người viết phải thể hiện được những cảm thụ sâu sắc của mình về tác phẩm, tác giả đang được đề cập. Đây là một yêu cầu quan trọng, góp phần tạo nên sự sâu sắc của bài viết. Kỹ năng viết văn nghị luận văn học của học sinh, sinh viên hiện nay Gắn liền với những yêu cầu đối với một bài văn nghị luận văn học chính là những yêu cầu đối với người viết về kỹ năng tạo lập kiểu văn bản này. Theo đó, để làm tốt một bài nghị luận văn học, trước hết, người học cần phải rèn luyện những kỹ năng chung về tạo lập văn bản nghị luận tìm hiểu đề, xác lập yêu cầu bài văn; xác định luận điểm, luận cứ, dẫn chứng, lập luận; kỹ năng viết, lập luận, diễn đạt; kỹ năng đánh giá, chỉnh sửa văn bản. Bên cạnh đó, như đã nói, để làm tốt kiểu bài văn nghị luận liên quan đến tác phẩm văn chương và hoạt động sáng tạo, tiếp nhận văn chương, người viết cần có được năng lực phân tích, cảm thụ tác phẩm và hiểu biết phong phú về văn chương để có thể đưa ra những nhận định, đánh giá xác đáng và thuyết phục, để bài viết có được chiều sâu cần thiết. Những yêu cầu này tùy theo từng đối tượng người học mà có những mức độ khác nhau, tuy nhiên, sự hoàn thiện về những kỹ năng này để có một bài viết tốt nhất là đích đến cuối cùng mà người học phải hướng tới. Trong những yêu cầu trên, một vấn đề rất quan trọng chính là kỹ năng xác lập các ý tưởng cho bài viết liên quan đến bước 1, 2 của tiến trình tạo lập văn bản. Đây là một kỹ năng quan trọng để có được một bài nghị luận văn học sâu sắc, thuyết phục. Tuy nhiên, đây lại chính là khiếm khuyết đang tồn tại ở đa số người học hiện nay khi thực hành tạo lập kiểu văn bản này. Như đã nói, tuy vai trò của tạo lập văn bản đã được nhấn mạnh và người học đã được rèn luyện kỹ năng này xuyên suốt các cấp học, song có một thực tế là hiện nay rất ít thấy những bài văn nghị luận của HS trọn vẹn về nội dung và hình thức như những yêu cầu đã đặt ra. Đa số người học không thể trình bày được một văn bản có bố cục hợp lý, sáng rõ. Bài viết cũng thường mắc nhiều lỗi về diễn đạt, lập luận thiếu logic. Đặc biệt, vấn đề rất quan trọng mà chúng tôi muốn nhấn mạnh trong bài viết này chính là sự hạn chế về ý tưởng của người học. Chúng ta đã biết, một bài viết phong phú, sâu sắc về ý tưởng, chặt chẽ về lập luận, diễn đạt mạch lạc, súc tích… mới là một bài viết tốt. Hệ thống các ý tưởng được sắp xếp và trình bày hợp lý chính là nòng cốt để tạo ra một bài nghị luận hay. Tuy nhiên, phần lớn HS lại thường không biết cách tìm, chọn lọc, sắp xếp các ý tưởng. Đối với nghị luận văn học, họ càng gặp nhiều khó khăn khi huy động vốn kiến thức về tác giả, tác phẩm, những nhận định, đánh giá… liên quan đến đề bài để tạo thành một hệ thống các ý tưởng cho bài viết. Trong quá trình giảng dạy các học phần liên quan đến tạo lập văn bản cho SV của trường Cao đẳng Sư phạm Sóc Trăng, chúng tôi đã tiến hành khảo sát ý kiến của người học về kiểu bài nghị luận văn học. Theo đó, khi được hỏi về những khó khăn khi viết một văn bản nghị luận văn học, đa số người học đều cho rằng họ “không thể hình dung được những ý tưởng cần có khi viết bài, không biết bắt đầu viết từ đâu”, “không biết cách xác định và trình bày luận điểm, luận cứ”, “thiếu thông tin, không đào sâu được vấn đề”, “chưa xác định được yêu cầu đề bài và phạm vi cần khảo sát”, “chưa liên hệ được những kiến thức từ thực tiễn vào trong bài viết”, “lập luận không chặt chẽ, diễn đạt chưa tốt”… Trong những phản hồi của người học, chúng tôi nhận thấy khó khăn mà họ gặp phải chủ yếu ở vấn đề xác định, hệ thống hóa và trình bày các ý tưởng cho bài văn. Thực tế các bài viết của các em cũng thể hiện điều này. Với đề bài “Giá trị nhân đạo trong tác phẩm Cô bé bán diêm của nhà văn Anđéc-xen”, trên 50% SV tham gia viết bài đều triển khai văn bản không đúng các ý trọng tâm cần có. Với đề bài này, các ý chính có thể triển khai để làm rõ bao gồm biểu hiện của giá trị nhân đạo trong tác phẩm; những đánh giá về giá trị nhân đạo của tác phẩm; bên cạnh đó còn có các ý khác giới thiệu về tác giả, tóm tắt nội dung tác phẩm… Tuy nhiên, đa số người viết chỉ tập trung vào cốt truyện, kể lại những chi tiết liên quan đến cuộc đời, số phận bất hạnh của cô bé bán diêm. Các bài viết không khái quát được các ý tưởng về “biểu hiện của giá trị nhân đạo” lấy từ tình tiết tác phẩm, thiếu những nhận định đánh giá, liên hệ mở rộng… Những hạn chế trong triển khai ý tưởng bài văn nghị luận văn học của HS, SV hiện nay đã dẫn đến tình trạng xuất hiện những văn bản “cực ngắn”, “diễn xuôi” tác phẩm, nội dung đề bài; nghĩ gì viết đó, không chủ đích giải quyết vấn đề đề bài đặt ra… Tình trạng này dẫn đến chất lượng bài viết của người học thường không cao, đồng thời dẫn đến những tiêu cực như lấy ý tưởng có sẵn của người khác hoặc lệ thuộc vào những văn bản mẫu. Đề xuất cách thức tìm ý tưởng để tạo lập văn bản nghị luận văn học Ý tưởng để tạo lập một văn bản nghị luận văn học rất phong phú và có thể tìm thấy từ nhiều kênh thông tin. Đó có thể là những kiến thức về tác giả, tác phẩm người học có được qua các giờ học, những thông tin về tác giả, tác phẩm được đọc thêm từ sách, báo, những nhận định, đánh giá của các nhà phê bình về tác giả, tác phẩm, vốn hiểu biết thực tế, trải nghiệm, những phát hiện riêng khi đọc tác phẩm, những xúc cảm của người viết về các chi tiết, nhân vật trong tác phẩm… Điều quan trọng là người học biết cách tìm và sắp xếp các ý tưởng hợp lý, đáp ứng được yêu cầu của đề bài. Dưới đây, chúng tôi sẽ khái quát lại một số cách thức người học có thể áp dụng để giúp việc tìm kiếm hệ thống các ý tưởng cho bài văn nghị luận văn học dễ dàng hơn. Tìm ý tưởng trong quá trình đọc hiểu văn bản Để tạo lập một văn bản nghị luận văn học, yêu cầu bắt buộc là người viết phải có hiểu biết về vấn đề được đặt ra trong đề bài. Đó chính là những kiến thức về tác phẩm, về trào lưu, giai đoạn văn học mà tác phẩm đó là một thành tố. Thực tế cho thấy, những HS “không biết viết gì” trong bài văn của mình là do thiếu mảng kiến thức quan trọng này. Để có kiến thức về tác phẩm, người học cần đầu tư nghiêm túc cho việc tìm hiểu văn bản. Vì vậy, một trong những yêu cầu quan trọng hiện nay chính là trang bị cho người học phương pháp đọc hiểu văn bản, để họ có thể tự chiếm lĩnh văn bản. Đây là một kỹ năng quan trọng đối với đa số người học. Những giờ học về tác phẩm trên lớp sẽ đóng vai trò quan trọng trong nhiệm vụ trang bị cho người học kỹ năng này. Giáo viên GV có thể vận dụng nhiều phương pháp, kỹ thuật dạy học khác nhau để hỗ trợ người học chiếm lĩnh tác phẩm. Ở bài viết này, chúng tôi xin giới thiệu hai kỹ thuật dạy học có thể được sử dụng trong giờ đọc hiểu văn bản cũng như hiệu quả của chúng trong việc giúp người học hiểu hơn về tác phẩm, từ đó có thêm những ý tưởng cho các bài viết nghị luận văn học. * Kỹ thuật DR-TA DR-TA Direct Reading – Thinking Activity [2] là kỹ thuật “đọc có hướng dẫn – hoạt động tư duy”, một kỹ thuật hướng dẫn người học nêu câu hỏi về văn bản, dự đoán nội dung văn bản, sau đó đọc để xác nhận hoặc bác bỏ những dự đoán của mình, qua đó điều chỉnh cách hiểu về văn bản. Kỹ thuật này được thực hiện trong từng đoạn văn bản để người học có điều kiện lần lượt thảo luận, trao đổi và điều chỉnh cách hiểu về văn bản. Các câu hỏi của giáo viên GV là các câu hỏi gợi mở và nảy sinh trên cơ sở những câu trả lời của người học. Tiến trình tương tác giữa GV và người học theo kỹ thuật DR-TA được thực hiện như sau – Bước 1 GV xác định văn bản và lựa chọn những điểm sẽ cho HS tạm dừng lại trong quá trình đọc để đặt câu hỏi và dự đoán. – Bước 2 – D = Direct Hướng dẫn GV yêu cầu người học đọc qua tựa đề, tên các chương, hình vẽ… và đặt các câu hỏi gợi mở hướng dẫn người học dự đoán về nội dung văn bản. Ví dụ “Với tựa đề như vậy, bạn cho rằng văn bản sẽ viết về cái gì?”… Bước này giúp kích thích tư duy của người học. – Bước 3 – R = Reading Đọc người học đọc đoạn đã chọn. GV gợi nhắc người học bằng những câu hỏi về những thông tin trong đoạn đã đọc và yêu cầu người học xem lại những dự đoán bản thân đã nêu trước đó và điều chỉnh lại cách hiểu về nội dung. – Bước 4 – T = Thinking suy nghĩ Khi đọc xong mỗi đoạn, GV sử dụng các câu hỏi gợi nhắc người học suy nghĩ lại về những dự đoán trước đó của mình, điều chỉnh hoặc bổ sung, làm rõ những dự đoán đó bằng các chi tiết trong văn bản. Ví dụ Hệ thống câu hỏi được xây dựng theo kỹ thuật DR-TA ĐI BỘ NGAO DU Trích Ê-min hay Về giáo dục – Ru-xô Ngữ văn 8 Hoạt động Câu hỏi gợi ý D Direct – Hướng dẫn Các câu hỏi được đặt ra trước khi người học đọc văn bản. 1. Theo bạn, với nhan đề “Đi bộ ngao du”, văn bản sẽ đề cập đến nội dung gì? 2. Bạn biết gì về tác giả Ru-xô? Điều đó giúp gì cho bạn khi tìm hiểu văn bản này? R Reading – Đọc Các câu hỏi được đặt ra khi HS đọc lần lượt từng đoạn văn bản 1. Hãy đọc đoạn 1. Ở đoạn này, tác giả đã trình bày vấn đề gì liên quan đến “đi bộ ngao du”? Những lý lẽ, dẫn chứng nào đã được trình bày? 2. Ở đoạn 2, tác giả tiếp tục trình bày vấn đề gì về “đi bộ ngao du”? Những điều tác giả trình bày có hợp lý không? 3. Tác giả mở đầu đoạn 3 bằng nhận định “Biết bao hứng thú khác nhau ta tập hợp được nhờ cách ngao du thú vị ấy…”. Vậy trong đoạn 3 tác giả sẽ trình bày nội dung gì về đi bộ ngao du? 4. Hãy sắp xếp các luận điểm của văn bản này vào một sơ đồ để thấy được cách lập luận của tác giả. T Thinking – Suy nghĩ Các câu hỏi được đặt ra khi người học đã đọc xong toàn văn bản. 1. Bạn tâm đắc điều gì về văn bản “Đi bộ ngao du”? 2. Nếu bạn là tác giả Ru-xô, bạn sẽ trình bày những vấn đề gì về chủ đề “đi bộ ngao du”? 3. Bạn hiểu thêm gì về tác giả Ru-xô sau khi đọc văn bản này? 4. Theo bạn, ý nghĩa của văn bản này là gì? * Kỹ thuật QAR QAR Q Question, A Answer, R Relationship [2], là kỹ thuật giúp người học hiểu mối quan hệ giữa câu hỏi, thông tin trong văn bản và kiến thức nền kiến thức sẵn có của người học, giúp họ phát triển mức độ phức tạp của câu hỏi và câu trả lời, qua đó hiểu sâu sắc, toàn diện hơn về văn bản. Câu hỏi đọc văn bản gồm bốn mức độ – Mức độ 1 – “Ở đây” Câu hỏi yêu cầu tìm thông tin có sẵn trong văn bản. Các câu hỏi ở mức độ này thường là “Ai là…?”, “Điều đó xảy ra khi nào, ở đâu?”, “Đó là cái gì?”… – Mức độ 2 – “Suy nghĩ và tìm kiếm” Câu hỏi yêu cầu HS phải suy nghĩ và tìm kiếm thông tin trong văn bản. Các câu hỏi ở mức độ này thường là “Hãy giải thích…”, “Hãy sosánh…”, “Điều đó có ý nghĩa gì?”, “Hãy tóm tắt…” – Mức độ 3 – “Tác giả và tôi” Câu hỏi yêu cầu HS phải có khả năng suy luận, dựa vào kiến thức nền đồng thời tìm minh chứng cho câu trả lời. Các câu hỏi ở mức độ này thường là “Dựa vào đâu mà bạn có kết luận đó?”, “Ý nghĩa của chi tiết/ hình ảnh/ sự kiện… là gì?” – Mức độ 4 – “Dựa vào chính tôi” câu hỏi ở mức độ này yêu cầu người học phải dựa vào năng lực suy luận của họ. Các câu hỏi ở mức độ này thường là “Bạn có suy nghĩ gì về…”, “Bạn đã từng biết/trải qua…?”, “Điều đó là như thế nào?” Mức độ 1, 2 là những câu hỏi sử dụng thông tin có sẵn trong văn bản, mức độ 3, 4 là những câu hỏi sử dụng kiến thức nền của người học để trả lời. Các mức độ câu hỏi này tạo thành một hệ thống chặt chẽ, phù hợp với quá trình tiếp nhận văn bản, thể hiện mối quan hệ giữa văn bản và thực tiễn. Các câu hỏi được thực hiện trước, trong và sau khi đọc văn bản, qua đó vừa kích hoạt kiến thức nền, trợ giúp người học đọc văn bản vừa giúp họ suy ngẫm về những gì mình đã đọc được từ văn bản, liên hệ với bản thân và thế giới xung quanh. Khi khảo sát một văn bản có sự kết hợp các câu hỏi ở cả bốn mức độ trên, người học có điều kiện để khai thác và hiểu về văn bản một cách rõ ràng, sâu sắc. Ví dụ Hệ thống câu hỏi được xây dựng theo kỹ thuật QAR BẾN QUÊ – Nguyễn Minh Châu Ngữ văn 9 Mức độ Câu hỏi gợi ý 1 1. Tìm những chi tiết trong tác phẩm nói lên hoàn cảnh của nhân vật Nhĩ. 2. Khi nằm trên giường bệnh, Nhĩ có những suy nghĩ gì? 2 1. Nguyễn Minh Châu đã xây dựng tình huống truyện như thế nào? Ý nghĩa của tình huống truyện đó. 2. Chi tiết nào trong tác phẩm mang lại cho bạn nhiều suy nghĩ nhất? Hãy nói về chi tiết đó. 3 Bạn suy nghĩ gì về ý nghĩa câu nói của nhân vật Nhĩ “Con người ta trên đường đời thật khó tránh được những cái điều vòng vèo, chùng chình” ? 4 1. Bạn có biết những ai gặp hoàn cảnh tương tự nhân vật Nhĩ không? 2. Nếu bạn ở trong hoàn cảnh của nhân vật Nhĩ, bạn mong muốn điều gì? Với các phương pháp, kỹ thuật dạy học được vận dụng hợp lý vào trong các giờ đọc hiểu văn bản mà điển hình là hai kỹ thuật trên, GV có thể giúp người học tăng cường hứng thú học tập, hiểu rõ hơn về tác phẩm, qua đó dễ dàng huy động ý tưởng cho bài viết khi tạo lập văn bản nghị luận văn học về tác phẩm. Tìm ý tưởng trong mối quan hệ giữa văn bản đang khảo sát và các tác phẩm khác Các tác phẩm văn học đều có mối quan hệ với nhau, xét ở một khía cạnh nhất định. Các tác phẩm đó có thể cùng thuộc một giai đoạn, trào lưu, đề tài, do một tác giả viết ra… hoặc tuy khác nhau về tác giả, giai đoạn, trào lưu nhưng lại có một khía cạnh nào đó tương đồng hoặc tương phản về nội dung, tư tưởng, nghệ thuật… Điều đó có nghĩa là luôn có một tiêu chí nào đó để chúng ta có thể so sánh các tác phẩm với nhau. Khi viết một bài nghị luận văn học, việc liên hệ, so sánh, đối chiếu tác phẩm văn học đang khảo sát với các tác phẩm khác sẽ giúp bài viết có được nhiều ý tưởng phong phú, việc khai thác vấn đề đặt ra trong đề bài sâu sắc hơn, thể hiện hiểu biết sâu rộng và khả năng lập luận của người viết. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là đa số người học không quan tâm đến việc liên hệ với các tác phẩm khác để tìm kiếm ý tưởng cho bài viết. Để khai thác tốt kênh thông tin này, trong quá trình hướng dẫn người học tìm ý tưởng cho bài văn nghị luận văn học, hoặc ngay chính trong quá trình tìm hiểu văn bản, GV có thể sử dụng hệ thống các câu hỏi gợi ý để định hướng cho người học cách liên hệ, khai thác mối quan hệ giữa các tác phẩm để bổ sung nguồn ý tưởng cho bài viết. Dưới đây là một số ví dụ cho việc sử dụng hệ thống câu hỏi liên hệ để tìm ý tưởng cho bài viết từ mối liên hệ giữa các văn bản Ví dụ 1 SÓNG – Xuân Quỳnh Ngữ văn 12 Vấn đề Câu hỏi gợi ý Đề tài tình yêu – Từ bài thơ Sóng, hãy tìm thêm những tác phẩm khác viết về đề tài tình yêu mà bạn đã được đọc. – Ngoài bài thơ Sóng, Xuân Quỳnh còn có những bài thơ nào về đề tài tình yêu không?… Chủ đề tác phẩm Viết về tình yêu của người phụ nữ, các tác phẩm khác thể hiện nội dung này như thế nào?… Nội dung “Những cung bậc phức tạp trong tình yêu của người phụ nữ” Trong bài thơ Thuyền và biển, Xuân Quỳnh đã có những lý giải về sự phức tạp trong tình yêu của người phụ nữ. Câu thơ nào thể hiện điều đó? Nội dung “Khát vọng tình yêu của người phụ nữ” Tự hát là một bài thơ thể hiện rất rõ nỗi lòng người phụ nữ đang yêu. Khát vọng tình yêu trong bài thơ Sóng đã được Xuân Quỳnh thể hiện như thế nào trong bài thơ Tự hát? Ví dụ 2 ĐỀ TÀI NGƯỜI NÔNG DÂN Nội dung Câu hỏi gợi ý Tác phẩm Văn học Việt Nam/ Văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 có những tác phẩm nào viết về đề tài người nông dân?…. Tác giả và quan điểm sáng tác 1. Những nhà văn nào có nhiều sáng tác về người nông dân Việt Nam? 2. Thái độ của các nhà văn đối với người nông dân có gì đặc biệt?…. So sánh các tác phẩm có đề tài người nông dân 1. Viết về đề tài người nông dân, nội dung và cách viết của các tác giả có gì giống/khác nhau? 2. Cách khắc họa tính cách, tâm lý nhân vật trong các tác phẩm có gì khác nhau?…. Tìm ý tưởng cho văn bản từ thực tiễn Văn chương luôn bắt nguồn từ hiện thực cuộc sống, phản ánh lại hiện thực khách quan bằng ngòi bút sáng tạo và cảm quan của từng tác giả. Thực tiễn chính là nguồn tư liệu phong phú và quan trọng cho sáng tác. Chính vì vậy, khi tìm hiểu, bình giá một tác phẩm văn học, người đọc cần phải chú ý khai thác thực tiễn cuộc sống có liên quan đến những điều được phản ánh trong tác phẩm để có được những hiểu biết sâu sắc hơn về tác phẩm đó, về mối quan hệ của nó đối với cuộc sống. Để tạo lập một văn bản nghị luận văn học hay, người viết cũng không thể bỏ qua nguồn tư liệu quan trọng này, góp phần làm cho hệ thống ý tưởng trong bài viết thêm phong phú, sâu rộng, qua đó lý giải, đánh giá sâu sắc và thuyết phục hơn về những vấn đề được đặt ra. Ý tưởng cho bài nghị luận văn học từ thực tiễn đời sống có thể bao gồm những những mẩu chuyện, nhân vật, sự kiện, hiện tượng xảy ra trong cuộc sống liên quan đến vấn đề được đặt ra trong đề bài. Ý tưởng đó có thể được tìm kiếm thông qua nhiều kênh thông tin qua quan sát từ thực tế đời sống hằng ngày, qua đọc sách, báo, internet… Để có được những ý tưởng hay, sâu sắc, ngoài việc tùy thuộc vào vốn sống, trải nghiệm và sự tinh tế, nhạy cảm riêng của từng HS, GV có thể sử dụng nhiều biện pháp cụ thể để hỗ trợ người học. Đó có thể là hệ thống các câu hỏi có tính chất gợi mở, ví dụ – Nhân vật/ hình ảnh/ chi tiết/ tình huống này gợi cho bạn nghĩ đến ai/ điều gì bạn đã gặp/ nghe/ chứng kiến trong thực tế? – Vấn đề được đặt ra trong tác phẩm có ý nghĩa như thế nào đối với cuộc sống hiện nay? – Trách nhiệm của bản thân góp phần giải quyết những vấn đề được đặt ra trong tác phẩm? Các câu hỏi như vậy cũng có thể được thiết kế lồng ghép trong các dạng bài tập khác nhau phiếu/ sơ đồ/ biểu bảng… trong quá trình lên lớp ở cả ba phân môn Giảng văn, Tiếng Việt, Làm văn, qua đó giúp người học hình thành kỹ năng tìm kiếm, phát triển các ýtưởng liên quan đến thực tiễn cho bài viết của mình. 3. Kết luận Tìm kiếm, phát triển các ý tưởng trong bài văn nghị luận văn học là một khâu quan trọng trong tiến trình tạo lập kiểu văn bản này, góp phần tạo nên một văn bản có nội dung trọn vẹn, phong phú và sâu sắc. Để có được một hệ thống ý tưởng tốt, người viết cần có hiểu biết đầy đủ, toàn diện về tác phẩm đang khảo sát, đồng thời khai thác tốt các kênh thông tin như các văn bản, vấn đề có liên quan với tác phẩm đó từ các tác phẩm khác và từ trong thực tiễn, từ những trải nghiệm sống của bản thân… Với những định hướng về cách thức tìm ý tưởng cho văn bản nghị luận văn học đã đề cập trong bài viết này, người học sẽ có những định hướng nhất định về nguồn ý tưởng cũng như cách thức tìm kiếm các ý tưởng đó để tự áp dụng vào quá trình tạo lập văn bản. Trong quá trình người học rèn luyện để hình thành kỹ năng này, GV có thể hỗ trợ tích cực cho họ thông qua việc hướng dẫn bằng hệ thống các câu hỏi, bài tập có tác dụng gợi mở cho người học con đường và cách thức tìm kiếm các ý tưởng thông qua nhiều kênh thông tin khác nhau. Đối với những người học còn mơ hồ về vấn đề này, những gợi mở đó thật sự có vai trò rất quan trọng. Nhìn chung, những đề xuất được nêu ra trong bài viết cũng chỉ mới dừng lại ở những nghiên cứu ban đầu. Chúng tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý đồng nghiệp để những ý tưởng của mình ngày càng hoàn thiện hơn, vận dụng có hiệu quả nhất vào việc hỗ trợ người học rèn kỹ năng tạo lập văn bản nghị luận văn học nói riêng và tạo lập văn bản trong nhà trường nói chung. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Nguyễn Thị Hồng Nam – Trần Nguyên Hương Thảo 2017, “Dạy tạo lập văn bản dựa trên tiến trình – Những bài học kinh nghiệm cho dạy tạo lập văn bản ở Việt Nam”, Tạp chí khoa học Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh, tập 14, số 4b 2017, tr. 116-126. 2. PGS. TS. Nguyễn Thị Hồng Nam – TS. Dương Thị Hồng Hiếu 2016, Giáo trình Phương pháp dạy đọc văn bản, Nxb Đại học Cần Thơ. Nguồn Tạp chí Khoa học – Đại học Đồng Nai, số 14 – 2019 Thánh Địa Việt Nam Học
Ôn thi THPT Quốc gia môn Văn bằng sơ đồ tư duyLập dàn ý bài văn nghị luận bằng bản đồ tư duyLập ý là để chuẩn bị cơ sở quan trọng cho việc lập dàn ý của bài viết. Nó có tác dụng định hướng cho bài, giúp các hệ thống luận đề trở nên chặt chẽ, chính xác, sâu sắc hơn, hạn chế tình trạng phổ biến ở học sinh hiện nay là khi viết thường bị lạc đề, xa đề, thừa ý, kết cấu lộn xộn, không cân đối, bài làm không đúng thể loại... Mời quý thầy cô và các em cùng tham khảo phương pháp lập dàn ý bằng bản đồ tư duy. Hi vọng phương pháp này sẽ giúp các em ôn thi THPT Quốc gia môn Văn hiệu quả thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn bằng bản đồ tư duyDẫn chứng cho bài nghị luận xã hộiBản đồ tư duy môn Văn ôn thi THPT Quốc gia1. Mối quan hệ giữa lập ý và xây dựng bản đồ tư duyBướcLập ýXây dựng bản đồ tư duy1Phân tích đề bài, tìm chủ đề cho bài viếtXác định từ khóa/ hình ảnh thể hiện ý tưởng trung tâm của bản đồ2Tìm ý, xác định các nội dung có liên quan đến chủ đề bài viếtTừ ý tưởng trung tâm, triển khai ý tưởng này thành các nhánh. Mỗi nhánh thể hiện một khía cạnh, vấn đề cụ thể hóa cho trung tâm chọn và sắp xếp ý tìm được theo một trật tự logic nhất địnhTổ chức lại bản đồ tư duy bằng cách lược bỏ bớt những yếu tố không cần thiết, đánh dấu thứ tự các nhánh theo logic nhất định4Lập dàn ý và hoàn thiện văn bản Thực chất, đây là bước mở đầu cho một kĩ năng khác nhưng vẫn cần nêu ở đây để thấy tính kết nối của toàn bộ quá trình làm văn!Hoàn thiện bản đồ tư duy2. Các bước xây dựng bản đồ tư duyBước 1. Phân tích đề bàiDựa theo những kiến thức đã học về kiểu bài nghị luận, giáo viên yêu cầu học sinh phân tích yêu cầu của đề bài trên hai tiêu chí nội dung và hình thức. Trong đó, trả lời các câu hỏi cụ thể như đây là kiểu bài gì? Vấn đề cơ bản của bài viết? Bài viết cần đáp ứng những yêu cầu gì về cách thức sử dụng ngôn ngữ và tổ chức văn bản? có thể áp dụng những thao tác lập luận nào để bài viết sinh động, thuyết phục?... Theo đó, bước Phân tích đề bài giúp người viết có cái nhìn khái quát về các yêu cầu cần thực 2. Hướng dẫn tìm ýVề bản chất, tìm ý gắn liền với việc người viết xác định những luận đề, luận điểm cho bài viết của mình. Ở đây, mới dừng lại ở hoạt động "tìm" chứ chưa đòi hỏi người viết phải sắp xếp thành trật bước này, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh tìm ý thông qua các thao tác nhỏ cụ thể như sauNêu vấn đềNội dung cần đạtXây dựng bản đồMinh họaChủ đề bài viết là gì?Sống đẹpĐưa vào làm ý tưởng trung tâm của bản đồ, ghi ra giữa trang giấyNhững vấn đề nào có thể triển khai xung quanh khái niệm "sống đẹp?"* Gợi ý học sinh tự liệt kê trong tư Sống đẹp là gì?- Sống đẹp có cần thiết không? Vì sao?- Sống đẹp được biểu hiện cụ thể bằng những giá trị như thế nào?- Có những điều gì cần tránh để trở thành người sống đẹp?- Có ví dụ nào trong thực tiễn không?[...]- Lấy từ khóa ngắn gọn cho mỗi vấn đề tìm được, đưa mỗi từ khóa ấy về một nhánh với xuất phát điểm là ý tưởng trung tâm. Khuyến khích học sinh ghi ra tối đa các từ khóa xuất hiện trong suy Mỗi nhánh từ khóa có thể vẽ bằng một màu sắc khác nhau cho dễ nhận Có thể vẽ theo một chiều trái – phải hoặc phải – mỗi ý lớn tìm được, hãy phát triển thành các ý nhỏ cụ thể hơn, trả lời cho từng câu hỏi đã có?- Sống đẹp là gì?+ ý nghĩa câu thơ+ biểu hiện đẹp của cuộc sống con người+ sống có lí tưởng, hoài bão, biết hi sinh [...]- Biểu hiện+ có khát vọng, lí tưởng+ có trí tuệ sáng suốt, rộng mở đón nhận hiểu biết [...]- Tiếp tục coi mỗi từ khóa ở các nhánh là điểm trung tâm bậc 2, vẽ tiếp các nhánh nhỏ hơn, trên mỗi nhánh nhỏ hơn ghi các nội dung cụ thể, chi Liệt kê tất cả các nội dung cụ thể minh họa cho vấn đề ở mỗi Ghi tóm lược nội dung ý, tránh dài dòng.Hình 1Hình 1 – Sản phẩm thao tác Tìm ýTrong bước này, có thể nhận thấy bản đồ tư duy khắc phục nhược điểm tuyến tính và hạn chế về độ mở của kiểu liệt kê tuyến tính. Với mỗi một ý tưởng nảy sinh, người viết đưa nó thành một nhánh của bản đồ, minh họa bằng hình ảnh sinh động nếu muốn; mở rộng bản đồ tư duy từ khái quát đến cụ thể đến khi có thể. Hiểu biết và năng lực phát hiện của người viết về vấn đề càng phong phú, sâu sắc bao nhiêu thì càng có thể làm nảy sinh nhiều ý tưởng bấy 3. Lựa chọn và sắp xếp ý theo trật tự logicKhi đã liệt kê được các ý tưởng nảy sinh trong đầu óc, người viết phải sắp xếp chúng theo một trình tự hợp lí, theo quy luật của tư duy logic. Trong thực tế, nhiều khi việc sắp xếp ý đã diễn ra song song với quá trình tìm ý. Tuy vậy, vẫn phải thực hiện bước đi này để đảm bảo chắc chắn quan hệ giữa các ý là có chủ đích. Bởi trong khi lập ý, việc sắp xếp trình tự các ý lớn, ý nhỏ đóng vai trò hết sức quan trọng. Một mặt, nó bộc lộ cách nhận thức của chủ thể về vấn đề đang bàn; mặc khác, nó lại có tác động không nhỏ tới tâm lí, tình cảm của người tiếp nhận về việc triển khai nội dung cho một đề làm văn trong nhà trường phổ thông, người viết không thể và cũng không cần thiết phải đưa vào tất cả những hiểu biết của mình. Mỗi đề bài thường có yêu cầu riêng đòi hỏi người viết phải huy động lĩnh vực kiến thức nhất định và vận dụng tới những kĩ năng chuyên biệt. Từ sơ đồ đã có sau bước hai, giáo viên hướng dẫn học sinh lựa chọn các ý phù hợp cho bài viết của mình, đảm bảo lấy những ý quan trọng nhất, làm bật được nội dung tư tưởng của bài cũng như phù hợp với dung lượng, thời gian yêu cầu. Đồng thời, tiến hành phân loại, sắp xếp các ý theo trình tự nhất định, đảm bảo tính logic, phát triển. Để làm được việc đó, học sinh không cần thiết vẽ lại sơ đồ theo trật tự mà có thể sử dụng con số, mũi tên, các kí hiệu riêng... để đánh dấu thứ tự trước – 2 – Sản phẩm thao tác lựa chọn và sắp xếp ý theo trật tự logicVới bản đồ tư duy đã có này, có thể thấy sản phẩm của thao tác lập ý không còn ở dạng tuyến tính theo kiểu truyền thống mà được "mã hóa lại" dưới dạng hình ảnh. Mỗi học sinh khác nhau có thể tạo ra một kiểu hình ảnh khác nhau. Điều này xuất phát từ việc mỗi chủ thể độc lập có một kiểu loại tư duy, khả năng khám phá, kĩ năng thể hiện và độ mở trong nhận thức hoàn toàn riêng biệt. Vì thế, so với cách làm trước đây, lập ý bằng bản đồ tư duy cho phép giáo viên đánh giá chuẩn xác hơn năng lực học sinh. Từ đó, có biện pháp điều chỉnh quá trình dạy học một cách phù hợp.
Hướng dẫn cách tìm ý cho bài văn nghị luận, khắc phục lỗi viết lan man không trọng tâm. Nhiều bạn học sinh chưa biết cách xác định luận điểm tìm ý cho bài văn nghị luận, dẫn đến việc viết lan man, nhớ đâu viết đấy, bài viết không rõ luận điểm. Bởi vậy dù có viết dài, viết sâu mà luận điểm không rõ ràng thì bài văn cũng không thể đạt điểm cao. Bài học hôm nay Admin sẽ hướng dẫn các em tìm ý cho bài văn nghị luận, khắc phục lỗi viết lan man, xa đề. Mỗi dạng đề văn nghị luận đều có dàn ý riêng, muốn tìm ý cho bài văn nghị luận, trước hết các em cần nắm vững cấu trúc bài văn. Cô tạm chia ra các dạng đề sau + Nghị luận văn học Phân tích, cảm nhận về nhân vật Phân tích tình huống truyện Phân tích , cảm nhận về đoạn thơ Phân tích, cảm nhận về đoạn trích văn xuôi Nghị luận ý kiến bàn về văn học Dạng đề so sánh văn học so sánh hai đoạn thơ, hai đoạn văn, hai nhân vật, hai hình ảnh, chi tiết trong tác phẩm… +Nghị luận xã hội Nghị luận về tư tưởng đạo lí Nghị luận về hiện tượng đời sống Nghị luận về vấn đề đặt ra trong tác phẩm văn học Sau đây Admin sẽ hướng dẫn các em tìm ý Luận điểm, Luận cứ phù hợp, khắc phục lối viết văn lan man, xa đề. Ở phạm vi bài viết này, Admin hướng dẫn các em tìm ý cho bài Nghị luận văn học. Hôm sau cô sẽ viết bài hướng dẫn cách tìm ý cho bài Nghị luận xã hội. Đây là khâu đặc biệt quan trọng, vì nếu các em không đọc kĩ đề, sẽ dẫn đến việc xác định sai kiểu bài, thậm chí không hiểu vấn đề, và rơi vào ” chém gió ” là điều không tránh khỏi. Vậy chúng ta khai thác đề bài như thế nào? Đọc kĩ và gạch chân những từ trọng tâm. Cần trả lời các câu hỏi sau Đây là dạng đề nào Đề đặt ra vấn đề gì cần giải quyết Viết lại rõ ràng luận đề ra giấy. Có 2 dạng đề Đề nổi, các em dễ dàng nhận ra và gạch dưới luận đề trong đề bài. Đề chìm, các em cần nhớ lại bài học về tác phẩm ấy, dựa vào chủ đề của bài đó mà xác định luận đề. Ví dụ Nhiều bạn cứ cầm đề thi lên, nhìn thấy Mị, Vợ chồng A Phủ là cắm đầu cắm cổ viết, viết tràn lan không có luận điểm ,như vậy rất nguy hại . Các em cần gạch chân những từ khoá trọng tâm của đề bài để xác định hướng triển khai cho phù hợp! Những từ khoá này sẽ giúp các em xác định rõ phần thân bài sẽ phải viết những gì. Bước 2 Tìm ý cho bài văn. Tìm ý như thế nào ? Các em dựa vào dàn ý chung của mỗi kiểu bài để tìm ý nhé. Muốn tìm đúng luận điểm, các em cần nắm vững các bước làm bài, đồng thời phải nắm được nội dung, nghệ thuật của tác phẩm. Ví dụ Nghị luận ý kiến bàn về tác phẩm có dàn ý sơ lược như sau Mở bài dẫn dắt ý kiến Thường giới thiệu tác giả, tác phẩm và đi vào ý kiến. Hoặc dựa vào nội dung của ý kiến để dẫn dắt và trích dẫn ý kiến Thân bài + Giải thích, làm rõ vấn đề Giải thích, cắt nghĩa các từ, cụm từ có nghĩa khái quát hoặc hàm ẩn trong ý kiến . Sau khi cắt nghĩa các từ ngữ cần thiết cần phải giải thích, làm rõ nội dung của cả ý kiến. Thường trả lời các câu hỏi Ý kiến trên đề cập đến vấn đề gì? Câu nói ấy có ý nghĩa như thế nào? + Bàn bạc, khẳng định vấn đề. Có thể lập luận theo cách sau – Khẳng định ý kiến đó đúng hay sai? cụ thể? – Lí giải tại sao lại nhận xét như thế? Căn cứ vào đâu để có thể khẳng định được như vậy? – Điều đó được thể hiện cụ thể như thế nào trong tác phẩm, trong văn học và trong cuộc sống?phân tích và lấy dẫn chứng trong tác phẩm văn học. +Mở rộng, nâng cao, đánh giá ý nghĩa của vấn đề đó với cuộc sống, với văn học. • Kết bài + Khẳng định lại tính chất đúng đắn của vấn đề. +Rút ra những bài học cho bản thân từ vấn đề. Từ dàn ý trên, các em có thể hình dung mình cần viết những luận điểm nào cho bài văn. Ví dụ 2 Kiểu bài phân tích,so sánh, cảm nhận về hai nhân vật ta lại có dàn ý khác MỞ BÀI – Dẫn dắt mở bài trực tiếp không cần bước này – Giới thiệu khái quát về tác giả tác phẩm và nhân vật thứ nhất. – Giới thiệu khái quát về tác giả tác phẩm và nhân vật thứ hai. -Giới thiệu vấn đề nghị luận THÂN BÀI 1. Phân tích nhân vật thứ nhất tích nhân vật thứ hai Chú ý bám sát vấn đề nghị luận 3. So sánh nét tương đồng và khác biệt giữa hai nhân vật 4. Lý giải sự khác biệt KẾT BÀI – Khái quát những nét giống nhau và khác nhau tiêu biểu – Có thể nêu những cảm nghĩ của bản thân. Từ dàn ý trên, các em có thể tìm được luận điểm cho bài văn của mình, tránh sa đà vào phân tích văn xuôi như kể chuyện và phân tích thơ như diễn dụ 3 Kiểu bài cảm nhận về đoạn thơ, đoạn trích văn xuôi Mở bài – Giới thiệu tác giả, giới thiệu bài thơ, đoạn thơ, đoạn văn hoàn cảnh sáng tác, vị trí,… – Dẫn bài thơ, đoạn thơ. * Thân bài – Làm rõ nội dung tư tưởng, nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ , đoạn văn – Bình luận về giá trị đoạn thơ, đoạn văn,… * Kết bài Đánh giá vai trò và ý nghĩa đoạn thơ, bài thơ, đoạn trích văn xuôi trong việc thể hiện nội dung tư tưởng và phong cách nghệ thuật của nhà thơ. Còn nhiều kiểu bài NLVH nữa, cô chỉ lấy 3 ví dụ tiêu biểu như trên. Bước 3 Tìm luận cứ Sau khi tìm được các luận điểm cho bài văn, chúng ta tiến hành tìm luận cứ. Khi xây dựng lập luận, điều quan trọng nhất là phải tìm cho được các luận cứ có sức thuyết phục cứ hiểu nôm na là những ý nhỏ, triển khai cho luận điểm. Luận cứ có thể là dẫn chứng, lí lẽ làm sáng tỏ cho luận điểm. Vậy tìm luận cứ như thế nào ? Cô hướng dẫn các em như sau + Trước hết, luận cứ phải phù hợp với yêu cầu khẳng định của luận điểm. Nội dung của luận cứ phải thống nhất với nội dung của luận điểm. Chẳng hạn muốn bình bài thơ hay, cần chọn được bài thơ hay, câu thơ hay. + Thứ hai, luận cứ phải xác thực, tức là nó phải đúng đắn. Khi nêu luận cứ, người viết cần biết chính xác về nguồn gốc, các số liệu, các sự kiện, tiểu sử nhân vật,… Biết không chắc chắn thì chưa vội sử dụng. Tuyệt đối không được bịa đặt luận cứ. Nhiều bạn không thuộc thơ, không nhớ dẫn chứng văn xuôi, dẫn đến tình trạng “Chém gió”, “đoán mò “ + Thứ ba, luận cứ phải tiêu biểu. Nếu nhà thơ có nhiều câu thơ hay thì chọn câu thơ tiêu biểu cho phong cách độc đáo của nhà thơ ấy. Nếu chọn chi tiết về nhân vật thì chọn chi tiết tiêu biểu nhất cho tính cách của nhân vật ấy. Ví dụ phân tích nhân vật T Nú không thể bỏ qua hình ảnh đôi bàn tay bị đốt. +Thứ tư, luận cứ phải vừa đủ, đáp ứng yêu cầu chứng minh toàn diện cho luận điểm Ví dụ trong bài Tây Tiến- Quang Dũng nếu các em muốn chứng minh thiên nhiên miền Tây dữ dội, khắc nghiệt thì cần lấy những dẫn chứng ở đoạn thơ “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi…Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”., chỉ phân tích những câu thơ tiêu biểu về vẻ dữ dội, khắc nghiệt của thiên nhiên. ->> Cần trích dẫn chính xác. Nhớ nguyên văn thì đặt trong ngoặc kép, nhớ đại ý thì chuyển thành lời gián tiếp Ví dụ minh hoạ Để chứng minh cho luận điểm ” TNú là một con người gan góc, táo bạo, dũng cảm, trung thành tuyệt đối với cách mạng” Ta có các luận cứ sau Ngay từ nhỏ,TNú đã cùng Mai làm liên lạc cho cán bộ ở trong rừng mà không sợ bị chặt đầu hoặc treo cổ. Khi đi liên lạc,giặc vây các ngả đường thì TNú đã “xé rừng mà đi”.Qua sông, TNú “không thích lội chỗ nước êm” mà “cứ lựa chỗ thác mạnh mà bơi ngang, vượt lên trên mặt nước, cỡi lên thác băng băng như một con cá kình”, “vì chỗ nước êm thằng Mĩ hay phục” Học chữ thua Mai thì lấy đá đập vào đầu .Điều ấy thể hiện ý thức của lòng tự trọng và ý chí quyết tâm cao. Bị giặc bắt thì nuốt luôn cái thư vào bụng, bị tra tấn không khai; một mình xông ra giữa vòng vây của kẻ thù trong tay không có vũ khí; bị giặc bắt, bị đốt mười đầu ngón tay vẫn không kêu than.. Như vậy, để lấy được những luận cứ hay, có sức thuyết phục, các em cần nắm vững nội dung và nghệ thuật của tác phẩm ấy. Từ việc không thuộc , hoặc nhớ mang máng, dẫn đến tình trạng viết lan man là không thể tránh khỏi. Mẹo Ba bước trên đây chúng ta chỉ thực hiện trong 5-10 phút, sau đó dành thời gian viết bài. Gạch ý ra giấy nháp theo từng ý lớn ý nhỏ, khi làm bài, thi thoảng nhìn giấy nháp để viết, sẽ tránh được tình trạng bỏ sót ý , hoặc ý trùng lặp. Đang viết mà bất chợt nghĩ ra một ý tưởng hay, một câu thơ, câu nói liên quan, các em ghi nhanh ra giấy nháp để làm dẫn chứng cho bài văn. Xem thêm Tổng hợp những đề thi về các tác phẩm trọng tâm lớp 12Những bài văn nghị luận xã hội hay lớp 12 Xem thêm Thực hành một số biện pháp tu từ cú pháp – Ngữ văn 12 Bài 2. Khối đa diện lồi và khối đa diện đều – Toán 12 Đọc hiểu môn văn có đáp án Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên Đề đọc hiểu về Đất nước Nguyễn Đình Thi Giáo án bài Từ ấy soạn theo 5 hoạt động Bài viết cùng chủ đề Kinh nghiệm ôn thi Ngữ văn 2017 Hướng dẫn làm dạng đề cảm nhận về chi tiết trong tác phẩm văn học Hướng dẫn làm dạng đề so sánh văn học- Luyện thi học sinh giỏi môn văn Đề đọc hiểu bài thơ Tự hát của Xuân Quỳnh Một số đề nghị luận xã hội hay dành cho học sinh lớp 10-11-12 Đề đọc hiểu Ngữ Văn hay Cây xấu hổ Bạn đừng nên chờ đợi những quà tặng bất ngờ của cuộc sống mà hãy tự mình làm nên cuộc sống Đề đọc hiểu về bài Thuyền và biển của Xuân Quỳnh Đọc hiểu về tác phẩm văn học ngoài chương trình Câu hỏi Đọc hiểu về bài thơ Tự tình Hồ Xuân Hương Nghị luận xã hội Facebook trong đời sống của giới trẻ Đề nghị luận xã hội Suy nghĩ về câu chuyện Một người ăn xin Nghị luận xã hội thông điệp gửi tới Đảo Trường Sa Nghị luận xã hội Suy nghĩ về lối sống đẹp Nghị luận xã hộiTrên đường thành công không có vết chân của người lười biếng Đề đọc hiểu về bài Thời gian của Văn Cao, SGK Ngữ văn 10
Đề văn nghị luận bao giờ cũng nêu ra một vấn đề để bàn bạc và đòi hỏi người viết bày tỏ ý kiến của mình đối với vấn đề đó. Tính chất của đề như ngợi ca, phân tích, khuyên nhủ, phản bác,... đòi hỏi bài làm phải vận dụng các phương pháp phù cần của việc tìm hiểu đề là xác định đúng vấn đề nghị luận cũng như phạm vi tính chấy của bài làm để tránh khỏi sai dàn ý cho bài nghị luận bằng các xác lập các luận điểm, từ đó cụ thể hóa thành các luận điểm phụ rồi từ đó tìm luận cứ và các thức lập luận cho bài bài Đề văn nghị luận và việc lập ý cho bài văn nghị luận - Ngữ văn 7 tập 2I. Tìm hiểu đề văn nghị luận1. Nội dung và tính chất của đề văn nghị luậnĐọc các đề văn sau và trả lời câu hỏi.1 Lối sống giản dị của Bác Hồ.2 Tiếng Việt giàu đẹp.Đề có tính chất giải thích, ca ngợi3 Thuốc đắng dã tật.4 Thất bại là mẹ thành công.5 Không thể sống thiếu tình bạn.6 Hãy biết quý thời gian.7 Chớ nên tự phụ.Đề có tính chất khuyên nhủ, phân tích8 Không thầy đố mày làm nên và Học thầy không tày học bạn có mâu thuẫn với nhau không?9 Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng.Đề có tính chất suy nghĩ, bàn luận10 Ăn cỗ đi trước, lội nước theo sau nên chăng?11 Thật thà là cha dại phải chăng?Đề có tính chất tranh luận, phản bác, lật ngược vấn đềCâu hỏia Các đề văn trên có thể xem là đề bài, đầu đề được không? Nếu dùng làm đề bài cho bài văn sắp viết có được không?b Căn cứ vào đâu để nhận ra các đề trên là đề văn nghị luận?c Tính chất của đề văn có ý nghĩa gì đối với việc làm lờia Giống như đề bài của các loại văn khác, đề bài của một bài văn nghị luận cũng khái quát chủ đề, nội dung chính của bài văn. Vì vậy, tất cả các đề văn trên đều có thể xem là đề bài, đầu đề cho bài văn có nội dung tương Đề bài của một bài văn nghị luận có vai trò nêu ra vấn đề để trao đổi, bàn bạc. Khi trao đổi, bàn bạc về vấn đề được nêu ra trong đề văn người làm văn nghị luận phải thể hiện được quan điểm, ý kiến của riêng mình về vấn đề đó. Căn cứ vào đặc điểm này, có thể khẳng định các đề văn trên đều là đề văn nghị hạn- 1 là đức tính giản dị của Bác Hồ; người viết phải bàn luận về đức giản dị và bày tỏ thái độ ngợi ca đức tính này ở vị lãnh tụ vĩ 3 là có trải qua khó khăn, gian khổ thì mới đến được vinh quang, sung sướng; người viết phải phân tích để thấy được ý nghĩa khuyên nhủ đúng đắn của câu thành ngữ 10 là không nên sống ích kỉ, cơ hội; người viết phải tranh luận để thể hiện được thái độ phản bác, lật lại vấn đề mà câu thành ngữ Ăn cỗ đi trước, lội nước theo sau nêu Tính chất của đề văn yêu cầu chúng ta phải hiểu đúng vấn đề, phạm vi, tính chất của bài văn nghị luận. Nó giúp ta không đi lệch khỏi vấn đề mình quan vào tính chất nghị luận, có thể xếp các đề trên theo những nhóm sau- Đề có tính chất giải thích, ngợi ca 1, 2;- Đề có tính chất phân tích, khuyên nhủ 3, 4, 5, 6, 7;- Đề có tính chất suy xét, bàn luận 8, 9;- Đề có tính chất tranh luận, bác bỏ 10, 11.2. Tìm hiểu đề văn nghị luậna Tìm hiểu đề Chớ nên tự phụ- Đề nêu lên vấn đề tự Đối tượng và phạm vi nghị luận ở đây là phân tích, khuyên nhủ không nên tự Khuynh hướng trong đề là phủ Đề đòi hỏi người viết phải có thái độ phê phán thói tự phụ, kiêu căng, khẳng định sự khiêm tốn, học hỏi, biết mình biết Trước một đề văn, muốn làm tốt người viết phải xác định được vấn đề cần nghị luận; từ đó hình dung cụ thể về đối tượng cần bàn bạc, đánh giá và biết được nên tập trung vào những gì để bài viết có trọng tâm tức là phạm vi nghị luận; xác định được tính chất nghị luận cần bộc lộ thái độ khẳng định, ngợi ca hay phủ định, phê phán; và qua những điều đã xác định được này mà có thể dự tính cách làm cụ thể cho bài văn hướng triển khaiII. Lập ý cho bài văn nghị luận1. Xác định luận điểmCho đề bài Chớ nên tự Tự phụ là một thói xấu của con Đức khiêm tốn tạo nên cái đẹp cho nhân cách con người bao nhiêu thì sự tự phụ lại làm xấu nhân cách bấy Những luận điểm phụ+ Tự phụ khiến cho bản thân cá nhân không biết mình là ai.+ Tự phụ luôn kèm theo thái độ khinh bỉ, thiếu tôn trọng những người khác.+ Tự phụ khiến cho bản thân bị chê trách, bị mọi người xa Tìm luận cứ- Tự phụ Tự đánh giá quá cao tài năng thành tích của mình, do đó coi thường mọi người, kể cả người trên Tự phụ có hại+ Cô lập mình với người khác.+ Hoạt động của mình bị hạn chế không có sự hợp tác dễ dẫn đến sai lầm và không hiệu quả.+ Gây nên nỗi buồn cho chính mình.+ Khi thất bại thường tự Các dẫn chứng minh họa+ Nên lấy từ thực tế trường lớp, môi trường quanh mình.+ Có lúc mình đã tự phụ.+ Một số dẫn chứng mà mình đã đọc qua sách báoChẳng hạn trong truyện Tam Quốc diễn nghĩa của La Quán Trung, nhân vật Ngụy Diên ỷ thế là tướng giỏi đã cưỡi ngựa ra trước ba quân và hét lên đắc chí “Ai dám chém đầu ta”. Trong lúc cứ gào lên như vậy thì đầu hắn đã bị một nhát chém bất ngờ từ một viên tướng quân của Xây dựng lập luận- Bắt đầu bằng cách định nghĩa tính tự Suy ra tác hại của tự Đề cao lối sống hoà đồng, khiêm tốn, phê phán thói tự phụ. Hướng dẫn soạn bài Đề văn nghị luận và việc lập ý cho bài văn nghị luận chi tiếtIII. Soạn phần Luyện tập Đề văn nghị luận và việc lập ý cho bài văn nghị luậnTìm hiểu đề và lập ý cho đề bài Sách là người bạn thân của con ý tham khảo* Tìm hiểu đề- Vấn đề nghị luận ý nghĩa to lớn của sách đối với đời sống con người;- Bàn luận về vấn đề nghị luận vai trò của sách với đời sống của con người;- Khuynh hướng nghị luận khẳng định ý nghĩa to lớn của sách đối với đời sống con người;- Yêu cầu Phải phân tích tác dụng của sách đối với nhận thức của con người về thế giới xung quanh, về các lĩnh vực tri thức, về quá khứ - hiện tại - tương lai, giúp cho ta chia sẻ với tình cảm của người khác, giúp ta có những phút giây giải trí, thưởng thức nghệ thuật ngôn từ,...; tiến tới khẳng định sách là người bạn không thể thiếu trong đời sống mỗi người.* Dàn ý- Mở bài Không có gì thay thế được sách trong việc nâng cao giá trị đời sống trí tuệ và tâm hồn của Thân bài Vì sao lại nói "Sách là người bạn lớn của con người"? Vì sách rất có ích đối với con người.+ Sách giúp ta hiểu biếtNhững không gian, thế giới bí thời gian đã qua của lịch sử hoặc tương lai mai sau để ta hiểu thực tại.+ Sách văn học đưa ta vào thế giới tâm hồn con ta thư ta những vẻ đẹp và thế giới thiên nhiên và con người đã được khám phá lần thứ hai qua nghệ ta hiểu vẻ đẹp của muôn từ - công cụ tư duy của con người. Cho ta thuộc lời hay ý đẹp để giao tiếp với quanh ta.+ Sách ngoại ngữ mở rộng thêm cánh cửa trí thức và tâm hồn.+ Trong thực tế, ích lợi của sách thể hiện ra sao? Những sự việc cụ thể nào cho thấy ích lợi của sách?+ Nhận rõ ích lợi to lớn của sách như vậy, chúng ta sẽ làm gì?- Kết bài Phải chọn và yêu quý sách-» Xem thêm Hướng dẫn trả lời câu hỏi soạn bài Đặc điểm của văn bản nghị luận SGKBài soạn tiếp theo Soạn bài Tinh thần yêu nước của nhân dân ta
Bạn đang xem tài liệu "Phân tích đề, lập dàn ý trong Văn nghị luận", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trênPHÂN TÍCH ĐỀ, LẬP DÀN Ý TRONG VĂN NGHỊ LUẬN A. Phân tích đề, tìm hiểu đề - Đọc kĩ đề, chú ý từng từ, khái niệm khó, nghĩa đen, nghĩa bóng của từ nhữ, nghĩa tường minh, nghĩa hàm ẩn của câu, đoạn. Chia vế, ngăn đoạn, tìm hiểu mối tương quan giữa các vế song song, chính phụ, nhân quả, tăng tiến, đối lập... - Nhiệm vụ của phân tích đề là phải xác định cho được ba yêu cầu sau đây * Vấn đề cần nghị luận là gì? Có bao nhiêu ý cần triển khai? Mối quan hệ giữa các ý như thế nào? * Sử dụng thao tác lập luận gì là chính? Đề học sinh giỏi thường yêu cầu sử dụng tổng hợp các thao tác, nhưng còn tùy thuộc vào lĩnh vực kiến thức mà thiên về thao tác nào là chính. Nếu liên quan đến tác phẩm thì chủ yếu phân tích - chứng minh, nếu liên quan đến lí luận văn học thì chủ yếu giải thích - bình luận ... * Vùng tư liệu được sử dụng cho bài viết tác gia, trào lưu, giai đoạn, thời kỳ văn học; trong nước hay thế giới. Đây là nhiệm vụ đầu tiên trước khi làm bài có ý nghĩa quyết định đến chất lượng bài viết, thế nhưng nhiều chưa ý thức được vai trò của khâu tìm hiểu đề này. Đôi khi có đầu tư đúng mức nhưng vẫn không xác định đủ và đúng yêu cầu của đề ra. Bởi lẽ, ở dạng đề tường minh các em thường có tâm lý chủ quan dẫn đến hiểu chưa đầy đủ yêu cầu và định hướng của đề bài, còn có lý do là kiến thức nền tảng chưa vững chắc dẫn đến việc tổ chức lập luận còn lỏng lẽo, thiếu ý, thừa ý; ở dạng đề hàm ẩn nếu thiếu đầu tư suy nghĩ thì việc xác định luận đề rất khó khăn, nếu không cẩn thận sẽ dẫn đến tình trạng chệch hướng, thậm chí lạc đề. Vậy không nên phỏng đoán rồi viết ẩu. Cần phải đầu tư thích đáng cho khâu này. Dạng đề hàm ẩn thường liên quan đến vấn đề lý luận, dĩ nhiên trên cơ sở phân tích những tác phẩm cụ thể. Nếu đề có cách nói bóng bẩy thì phải xem xét nó thuộc lĩnh vực kiến thức nào của lý luận văn học. Chung qui lại vẫn là phạm vi kiến thức mà ta đã học. Ví dụ đề bài năm 1997- bảng B "Văn học chân chính có khả năng nhân đạo hóa con người". Hãy bình luận ý kiến trên. Đề này đề cập đến chức năng giáo dục của văn học. Trên cơ sở hiểu biết về đơn vị kiến thức trên mà tổ chức lập luận. B. Lập dàn ý Sau khi xác định được nội dung luận đề phải tổ chức lập luận, lập được dàn bài hợp lý là thỏa mãn yêu cầu của đề bài. Khâu này tùy thuộc rất lớn vào kết quả phân tích đề. Nếu phân tích đề sai một ly thì dàn bài sẽ đi một dặm. Ít nhất là các em phải vạch ra được những ý lớn, những luận điểm chính, trên cơ sở đó từng ý lớn phải cụ thể hóa thành nhiều ý nhỏ, thậm chí mỗi ý nhỏ nếu cần thì cụ thể hóa thành nhiều ý nhỏ hơn còn gọi là khía cạnh của ý nhỏ. I. Tác dụng của vệc lập dàn ý - Lập dàn ý giúp cho người viết lựa chọn, sắp xếp ý thành một hệ thống chặt chẽ và bao quát được nội dung cơ bản, nhờ đó mà tránh tình trạng lạc đề hoặc lặp ý, tránh được việc bỏ sót ý hoặc triển khai ý không cân xứng. - Có dàn ý người viết sẽ phân phối thời gian hợp lý khi viết bài II. Cơ sở lập ý Có hai cơ sở để xác lập ý - Trường hợp đề bài có nhiều ý thì dựa vào chỉ dẫn của đề nhưng phải xác định mối quan hệ giữa các ý, nhất là quan hệ chính phụ, không nên nhầm lẫn ý chính với ý phụ. Thường thì những đề này chỉ chứa những ý chính. Ví dụ đề bài Nguyễn Văn Siêu có viết " Văn chương ... có loại đáng thờ. Có loại không đáng thờ. Loại không đáng thờ là loại chỉ chuyên chú ở văn chương. Loại đáng thờ là loại chuyên chú ở con người" Hãy bình luận ý kiến trên. Đề có hai ý tương đối rõ ràng. - Trường hợp đề bài chỉ có một ý. Đây là dạng phổ biến thường gặp ở những kỳ thi giỏi. Vậy thì căn cứ vào đâu để xây dựng được hệ thống lập luận gồm những ý lớn ý nhỏ? Hoàn toàn lệ thuộc vào vốn kiến thức của bạn! Nếu có chút lúng túng thì hãy chú ý đến nội hàm của khái niệm nếu có hoặc hiểu cái ý ngầm đằng sau những lời văn là gì... III. Cách lập dàn ý bài văn nghị luận 1. Xác định các luận điểm ý lớn. - Đề bài có nhiều ý thì ứng với mỗi ý là một luận điểm. - Đề bài có một ý, thì ý nhỏ hơn cụ thể hoá ý đó được xem là những luận điểm. Nội dung kiến thức này ở trong bài học, tư liệu hoặc vốn tự có. 2. Tìm luận cứ ý nhỏ cho các luận điểm. Mỗi luận điểm cần cụ thể hoá thành nhiều ý nhỏ hơn gọi là luận cứ. Số lượng ý nhỏ và cách triển khai tuỳ thuộc vào ý lớn. Ý nhỏ có khi được gợi từ đề bài nhưng phần lớn là từ kiến thức của bản thân. 3. Lập dàn ý ba phần a. Mở bài Giới thiệu luận đề b. Thân bài Triển khai nội dung theo hệ thống các ý lớn, ý nhỏ đã tìm. c. Kết bài Tổng kết nội dung trình bày, liên hệ mở rộng, nâng cao vấn đề. Ví dụ đề bài năm 1997- bảng B "Văn học chân chính có khả năng nhân đạo hóa con người". Hãy bình luận ý kiến trên. Đề này đề cập đến chức năng giáo dục của văn học. Trên cơ sở hiểu biết về đơn vị kiến thức trên mà tổ chức lập luận. - Nói văn học chân chính có khả năng nhân đạo hóa con người là nói đến ý nghĩa tác động tích cực của văn học đối với người đọc, làm cho họ tốt hơn lên, biết sống nhân ái, nhân đạo. Khi đã nắm chắc nôi dung luận đề thì tiến hành xác lập ý lớn. Đề trên có thể triển khai thành những luận điểm như sau sao văn học lại có nhiệm vụ nhân đạo hóa? Do ý đồ sáng tạo của nhà văn, là chức năng cao cả của văn học. học thực hiện nhiệm vụ nhân đạo hóa bằng cách nào? - Đấu tranh vì một xã hội công bằng tốt đẹp. - Giúp con người tự nhận thức, tự hoàn thiện đạo đức nhân cách, tự chọn lối sống cách sống đẹp nhân ái. - Đôi khi văn học giúp con người có lối sống nhân đạo bằng lời đề nghị trực tiếp. 3. Có phải chỉ có văn học mới có chức năng giáo dục con người hay không? Gia đình, nhà trường, xã hội! Môn Giáo dục công dân Vậy đặc thù của văn học là gì? 4. Ý nghĩa vấn đề Đối với nhà văn. Đối với bạn đọc. CÁC THAO TÁC LẬP LUẬN TRONG VĂN NGHỊ LUẬN A. Khái niệm Thao tác được dùng để chỉ việc thực hiện những động tác theo trình tự và yêu cầu kỹ thuật nhất định. Thao tác lập luận là quá trình triển khai lí lẽ một cách lô gic nhằm phát hiện thêm một chân lí mới từ chân lí đã có. Phân biệt thao tác lập luận với các khái niệm khác - Yếu tố lập luận lí lẽ, chứng cứ, kết luận - Cách triển khai lập luận diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, nêu phản đề, so sánh, vấn đáp, phân tích nhân quả. - Phương tiện diễn đạt trong lập luận miêu tả, tự sự, thuyết minh B. Các thao tác lập luận I. Giải thích 1. Khái niệm GT là vận dụng tri thức để hiểu vấn đề nghị luận một cách rõ ràng và giúp người khác hiểu đúng ý của mình. Ví dụ 1 Chất thơ trong văn là gì? Trả lời Chất thơ còn gọi là chất trữ tình trong văn xuôi là chỉ thứ ngôn ngữ bóng bẩy, giàu cảm xúc và có tính nhạc trong lời văn, nhiều từ ngữ gợi chứ không tả. Đoạn văn mở đầu truyện "Hai đứa trẻ" của Thạch Lam là khá tiêu biểu Ví dụ 2 Giải thích câu thơ sau Trải qua một cuộc bể dâu Những điều trông thấy mà đau đớn lòng ND - TK Trả lời Đây là câu thơ thứ 3 và 4 của Truyện Kiều. Câu thơ thể hiện sự chiêm nghiệm phổ quát của đại thi hào về cõi nhân sinh chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau. Cuộc bể dâu là những đổi thay lớn lao bất ngờ ngoài sự toan tính và mong muốn của con người, gây ra nhiều nỗi đau thương. Trong cuộc vần xoay đó làm bật lên những thân phận bất hạnh khiến ND vô cùng thương xót, bất bình. Chinh phụ ngâm cũng có ý thơ gần như vậy Thuở trời đất nổi cơn gió bụi / Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên. 2. Cách làm - Giải thích cơ sở Giải thích từ ngữ, khái niệm khó, nghĩa đen, nghĩa bóng của từ - Trên cơ sở đó giải thích toàn bộ vấn đề, chú ý nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn Ví dụ Sự trong sáng của ngôn ngữ là kết quả của một cuộc phấn đấu. Trong và sáng dính liền nhau. Tuy nhiên, cũng có thể phân tích ra để cho được rõ nghĩa hơn nữa. Theo tôi nghĩ, sáng là sáng sủa, dễ hiểu, khái niệm được rõ ràng; thường thường khái niệm, nhận thức, suy nghĩ được rõ ràng thì lời diễn đạt ra cũng được minh bạch. Tuy nhiên, nhất là trong thơ, có rất nhiều trường hợp ý nghĩa sáng rồi, dễ hiểu rồi, nhưng lời diễn đạt còn thô, chưa được trong, chưa được gọn, chưa được chuốt. Do đó tôi muốn hiểu chữ sáng là nặng về nói nội dung, nói tư duy, và chữ trong là nặng nói về hình thức, nói diễn đạt và cố nhiên là nội dung và hình thức gắn liền. Cho nên phải phấn đấu cho được sáng nghĩa, đồng thời lại phải phấn đấu cho được trong lời, đặng cho câu thơ, câu văn trong sáng... Xuân Diệu II. Phân tích 1. Khái niệm Phân tích là chia tách đối tượng, sự vật hiện tượng thành nhiều bộ phận, yếu tố nhỏ để đi sâu xem xét kĩ lưỡng nội dung và mối liên hệ bên trong của đối tượng. Đối tượng phân tích trong bộ môn văn học một nhận định, văn bản, tác phẩm, một phần tác phẩm, nhân vật, các yếu tố cụ thể Tác dụng của phân tích là thấy được giá trị ý nghĩa của sự vật hiện tượng, mối quan hệ giữa hình thức với bản chất, nội dung. Phân tích giúp nhận thức đầy đủ, sâu sắc cái giá trị hoặc cái phi giá trị của đối tượng. Riêng đối với tác phẩm văn học, phân tích là để khám phá ba giá trị của văn học nhận thức, tư tưởng và thẩm mĩ. Yêu cầu phân tích phải nắm vững đặc điểm cấu trúc của đối tượng để chia tách một cách hợp lí. Sau khi phân tích tìm hiểu từng bộ phận, chi tiết phải tổng hợp khái quát lại để nhận thức đối tượng đầy đủ, sâu sắc và trình bày ngắn gọn. 2. Cách phân tích - Khám phá chức năng biểu hiện của các chi tiết Ví dụ 1 Trời thu xanh ngắt mấy từng cao Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu. Nguyễn Khuyến Từ xanh ngắt gợi tả không gian trời thu cao xanh vời vợi, nền trời là một màu xanh ngăn ngắt. Màu xanh này gợi tả được cảnh trong veo và thật im vắng, yên tĩnh. Cụm từ mấy từng cao đã diễn tả không gian sâu thẳm vô cùng. Trên nền không gian bao la ấy, tác giả điểm xuyết một cành trúc. Từ láy lơ phơ giàu sức tạo hình, gợi tả cành trúc khẳng khiu, thanh mảnh, nhẹ nhàng, thưa thớt lá, đang đong đưa trong làn gió nhẹ của chiều thu. Nhờ cần trúc với dáng nét lơ phơ mà cảnh thu có vẻ đẹp duyên dáng thơ mộng, thanh thoát. Ví dụ 2 Bức tranh thiên nhiên Việt Bắc lơ lửng, trữ tình Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương - Hình ảnh thơ chân thực, không gian gần gũi nhưng nhờ cách lựa chọn thời gian nên đã gợi tả được phong cảnh tuyệt vời. Đó là thời điểm ngày đã hết, nắng chiều đã lưng nương nhưng lần lữa như không muốn đi. Bóng hoàng hôn còn lưu luyến thì trăng đã nhô lên, đổ ánh sáng dịu dàng. Do đó cảnh thung lũng có sự giao hòa ánh sáng của mặt trời và mặt trăng, thứ ánh sáng dịu dàng, trong trẻo của trăng hoà với ánh sáng êm ả của hoàng hôn tạo ra một vừng sáng diệu kì như thực, như mơ. Chớp lấy khoảnh khắc lạ lùng, Tố Hữu đã đem đến cho thiên nhiên Việt Bắc một vẻ đẹp bình dị, mộng mơ làm say đắm lòng người. - Dùng phép liên tưởng để mở rộng nội dung ý nghĩa Ví dụ THoài giới thiệu nhân vật Mị trong truyện Vợ chồng A Phủ - Trước nhà thống lí Pá Tra, người ta lúc nào cũng thấy Mị ngồi quay sợi bên tảng đá cạnh tàu ngựa. - Lúc nào cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi. -> Vị trí ngồi ấy cho thấy cuộc đời Mị như bị thít chặt trong kiếp ngựa trâu và khuôn mặt lột tả cõi lòng luôn mang nỗi đau buồn thầm lặng dai dẳng, triền miên. Nỗi buồn đông cứng như tảng đá vô tri và đè nặng lên đôi vai, lên cuộc đời Mị. Tác giả đã thể hiện nỗi buồn của Mị với giọng văn ngậm ngùi và chiều sâu cảm th ... để hiểu chắc chắn hơn và tìm hiểu tác dụng, ý nghĩa của vấn đề đối với bản thân và đời sống Phần kết bài nên nhấn mạnh lần nữa giá trị của vấn đề. Ví dụ 2 “Tiếng suối trong như tiếng hát xa” Nguyễn Du, Bạch Cư Dị so tiếng đàn với tiếng suối. Thế Lữ lại so tiếng hát trong với nước ngọc tuyền suối ngọc. Những người này không miêu tả trực tiếp tiếng suối. Chỉ có Nguyễn Trãi cho tiếng suối là tiếng đàn cầm. Có lẽ đó là hình ảnh gần nhất với hình ảnh trong câu thơ này. Có thể chẳng phải ngẫu nhiên. Nguyễn Trãi sành âm nhạc. Bác Hồ cũng thích âm nhạc. Tiếng hát của một danh ca Pháp từng thích nghe thời trẻ, đến tuổi bảy mươi Bác còn nhờ chị Mađơlen Rípphô tìm lại hộ. Tiếng suối ngàn của đất nước hay đó là tiếng hát của trái tim người nghệ sĩ yêu đời. Lê Trí Viễn VI. Bác bỏ 1. Khái niệm Bác bỏ là chỉ ra ý kiến sai trái của vấn đề trên cơ sở đó đưa ra nhận định đúng đắn và bảo vệ ý kiến lập trường đúng đắn của mình. 2. Yêu cầu của thao tác lập luận bác bỏ - Muốn bác bỏ một ý kiến sai thì phải dẫn đầy đủ ý kiến đó. Sau đó làm sáng tỏ hai phương diện sai ở chỗ nào và vì sao như thế là sai. Trả lời vì sao như thế là sai, đó chính là thao tác lập luận bác bỏ. - Để khẳng định ý kiến sai cần xem xét ba yếu tố luận điểm, luận cứ, luận chứng. - Bác bỏ ý kiến sai là dùng lý lẽ và dẫn chứng để phân tích, lí giải tại sao như thế là sai. * Lưu ý Trong thực tế, một vấn đề nhiều khi có mặt đúng, mặt sai. Vì vậy, khi bác bỏ hoặc khẳng định cần cân nhắc, phân tích từng mặt để tránh tình trạng khẳng định chung chung hay bác bỏ, phủ nhận tất cả. 3. Cách sử dụng Bác bỏ một ý kiến sai có thể thực hiện bằng nhiều cách bác bỏ luận điểm, bác bỏ luận cứ, bác bỏ cách lập luận hoặc kết hợp cả ba cách. a. Bác bỏ luận điểm thông thường có hai cách bác bỏ - Dùng thực tế để bác bỏ Nếu luận điểm đi ngược lại với thực tế thì ta dùng thực tế để bác bỏ. - Dùng phép suy luận Từ thực tế, ta có thể thêm suy luận để cái sai ấy bộc lộ rõ hơn. b. Bác bỏ luận cứ Là vạch ra tính chất sai lầm, giả tạo trong lý lẽ và dẫn chứng được sử dụng. c. Bác bỏ lập luận Là vạch ra sự mâu thuẫn, không nhất quán, phi lôgíc trong lập luận của đối phương. * Lưu ý Mục đích của bác bỏ là bảo vệ chân lí, xác nhận sự thật. Nếu xa rời mục đích chân lí thì sự bác bỏ trở thành nguỵ biện, vô bổ và có hại. Bài viết có bố cục như sau Đoạn 1 Xác định luận điểm cần bác bỏ. Đoạn 2 Phân tích để thấy rõ thực chất của luận điểm. Đoạn 3 Dùng luận cứ để bác bỏ luận điểm. Ví dụ a. Nhất Chi Mai Nhất Linh phê bình Vũ Trọng Phụng, năm 1937. Đọc xong một đoạn văn, tôi thấy trong lòng phẫn uất, khó chịu, tức tối. Không phải phẫn uất, khó chịu cái vết thương xã hội tả trong câu văn, mà chính là vì cảm thấy tư tưởng hắc ám, căm hờn nhỏ nhen ẩn trong đó. ... Đọc văn Vũ Trọng Phụng, thực không bao giờ tôi thấy một tia hy vọng, một tư tưởng bi quan. Đọc xong ta tưởng nhân gian là một nơi địa ngục và xung quanh mình toàn là những kẻ giết người, làm đĩ, ăn tục, nói càn, một thế giới khốn nạn vô cùng. Phải chăng đó là tấm gương phản chiếu tính tình, lí tưởng của nhà văn, một nhà văn nhìn thế giới qua cặp mắt kính đen và một cội nguồn văn cũng đen nữa. b. Vũ Trọng Phụng đã phản bác lại cùng năm đó, 1937. Khi dùng một từ bẩn thỉu tôi chẳng thấy khoái trá như khi các ông tìm được một kiểu áo phụ nữ mới mẻ, những lúc ấy, tôi chỉ thương hại cái nhân loại ô uế bẩn thỉu, nó bắt tôi phải viết như thế, và nó bắt các ông phải chạy xa sự thực bằng những danh từ điêu trá của văn chương. Các ông quen nhìn một cô gái nhảy là một phụ nữ tân thời, vui vẻ trẻ trung, hi sinh cho ái tình hoặc cách mạng lại gia đình. Riêng tôi, tôi chỉ thấy đó là một người đàn bà vô học, chẳng có thị vị, lại hư hỏng, lại bất hiếu bất mục nữa, lại có nhiều vi trùng trong người nữa. Tôi không biết gọi gái đĩ là nàng - chữ ấy nó thi vị lắm - hoặc tô điểm cho gái đĩ ấy những cái thi vị mà gái đĩ ấy không có, đến nỗi đọc xong truyện người ta chỉ thấy một gái đĩ làm gương cho thế gian noi theo! ... Đó, thưa các ông, cái chỗ bất đồng ý kiến giữa chúng ta!... Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết. Tôi và các nhà văn cùng chí hướng như tôi, muốn tiểu thuyết là sự thực ở đời... Hắc ám, có! Vì tôi vốn là người bị quan, căm hờn cũng có, vì tôi cho rằng cái xã hội nước nhà mà lại không đáng căm hờn, mà lại cứ "vui trẻ trung", trưởng giả, ăn mặc tân thời, khiêu vũ các ông chủ trương thì một là không muốn cải cách gì xã hội, hai là ích kỉ một cách đáng sỉ nhục. Còn bảo nhỏ nhen thì thì thế nào? Tả thực cái xã hội khốn nạn, công kích cái xa hoa dâm đãng của bọn người có nhiều tiền, kêu ca những sự thống khổ của nhân dân nghèo bị bóc lột, bị áp chế, bị cưỡng bức, muốn cho xã hội công bình hơn nữa, đừng có chuyện ô uế, dâm đãng, mà bảo là nhỏ nhen, thì há dễ Zôla Dôla, Hugo Huygô, Mabraux Mabrô, Dostoievski Đôtstôiepski, Maxime Gorki Maxim Gorki lại không cũng là nhỏ nhen? Nếu các ông không muốn sờ lên gáy thì thôi, bao nhiêu chuyện thanh cao, tao nhã, cao thượng của loài người xin các ông cố mà hương hoa khấn khứa. Tôi xin để cái phần ấy cho các ông. Riêng tôi, xã hội này, tôi chỉ thấy khốn nạn, quan tham lại nhũng, đàn bà hư hỏng, đàn ông dâm bôn, một tụi văn sĩ đầu cơ xảo quyệt, mà cái xa hoa chơi bời của bọn giàu thì thật là những câu chửi rủa vào cái xã hội dân quê, thợ thuyền bị lầm than, bị bóc lột. Lạc quan được cho đời là vui, là không cần cải cách, cho cái xã hội này là hay ho tốt đẹp, rồi ngồi mà đánh phấn bôi môi hình quả tim để đi đua ngựa, chợ phiên, khiêu vũ, theo ý tôi, thế là giả dối, là tự lừa mình và di hoạ cho đời, nếu không là vô liêm sỉ một cách thành thực. C. Vận dụng kết hợp các thao tác lập luận 1. Vì sao phải sử dụng kết hợp các thao tác lập luận? Viết văn nghị luận là thể hiện sự hiểu biết, nhận thức, khám phá của mình về đối tượng nghị luận nhằm nâng cao trình độ, năng lực, giúp người khác cùng hiểu và tin vào vấn đề. Đồng thời người viết cũng thể hiện chính kiến, thái độ, sự đánh giá vấn đề, không ngừng đưa ra những điều chỉnh tích cực nhằm nâng cao sự tiến bộ trong lĩnh vực văn minh tinh thần của văn học. Do đó phải sử dụng kết hợp các thao tác lập luận. - hiểu biết, nhận thức -> giải thích - khám phá -> phân tích - đánh giá -> bình luận. ... 2. Tìm hiểu việc sử dụng kết hợp các thao tác lập luận trong bài văn sau HOÀNG HẠC LÂU Lầu Hoàng Hạc Thôi Hiệu Thôi Hiệu 704 - 754 là một trong những nhà thơ xuất sắc thời Đường. Hoàng Hạc lâu là bài thơ nổi tiếng được truyền tụng xưa nay. Thắng cảnh lầu Hoàng Hạc ở huyện Vũ Xương, tỉnh Hồ Bắc gắn với truyền thuyết người tiên là Tử An rồi Phí Văn Vi cưỡi chim hạc vàng đến nơi này. Tương truyền khi xưa Lí Bạch có đi qua Hoàng Hạc lâu, thấy phong cảnh hữu tình, muốn phóng bút một vài câu thơ ca ngợi nhưng chợt thấy bài Hoàng Hạc lâu khắc trên vách bèn ngửa mặt than rằng Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu . Dịch Trước mắt thấy cảnh không tả được Vì Thôi Hiệu đã đề thơ trên đầu. Lầu Hoàng Hạc toạ lạc ở địa điểm cao nên có thể nhìn bốn phương trời mênh mang và phía dưới là dòng sông Dương Tử chảy về đông. Đứng trên lầu cao, cảm giác con người quá bé nhỏ trước vũ trụ, trước không gian vĩnh hằng và thời gian chảy trôi vĩnh viễn. Do đó, bốn câu đầu gợi tả quang cảnh chung nhưng cũng là suy niệm về phận người trước cái vô thủy vô chung Hạc vàng ai cưỡi đi đâu, Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ. Hạc vàng đi mất từ xưa, Ngàn năm mây trắng bây giờ còn bay. Nhắc đến tích xưa là chiêm nghiệm cái còn và cái đã mất. Người tiên đã cưỡi chim thiêng mang cái đẹp đi rồi, bây giờ lầu Hoàng Hạc chỉ còn dấu tích của kỉ niệm, đứng trơ trọi như cái xác không hồn. Nhìn lên bầu trời quang đãng chỉ thấy vầng mây trắng trôi lơ lửng ngàn năm Ngàn năm mây trắng bây giờ còn bay. Cảnh trong trẻo mênh mông mà cô quạnh đã diễn tả cái trống vắng chơi vơi trong tâm hồn lữ khách. Bốn câu thơ nhưng có ba từ hoàng hạc, đây là điểm kiêng kị trong thơ Đường nhưng phép điệp hình ảnh chim hạc bay đi chỉ còn lại khoảng trời trống vắng đã diễn tả niềm luyến tiếc không nguôi cái đẹp đã mất. Tâm trạng hụt hẫng, nuối tiếc như gởi vào bầu trời xanh mênh mông. Đoạn thơ còn suy niệm về lẽ mất còn và cái hữu hạn, bé nhỏ của đời người trước sự trôi chảy của thời gian và không gian trời rộng sông dài. Hạc vàng tượng trưng cho ẩn sĩ, cái đẹp cao khiết và bất tử. Mây trắng biểu tượng cho trinh bạch, yên tĩnh nhưng vô hồn như lầu không. Hạc đi, mây ở lại, gợi đến tình cảnh biệt li. Hạc vàng đi về đâu không biết như cuộc đời con người thật quý giá nhưng cuối cùng sẽ đi về đâu sau trăm năm chìm nổi nên hình ảnh mây trắng phiêu bồng lãng du gợi cảm giác phù sinh của kiếp người. Thơ luật Đường thất ngôn, đề ra nguyên tắc niêm luật rất chặt chẽ. Tuy vậy bốn câu thơ đầu đã phá luật bằng trắc hoàng hạc khứ / hoàng hạc lâu để đảm bảo tiểu đối về cái động chim hạc bay với cái tĩnh lầu Hoàng Hạc, từ đó nổi rõ ý tưởng giữa cái hư vô và cái hiện hữu. Bất phục phản đối không chỉnh với không du du nhưng thể hiện được cảm xúc tự nhiên dạt dào. Từ cảnh hiện hữu gợi cái vô thường, nhà thơ đưa người đọc về không gian sống tươi tắn, tràn đầy ánh sáng của cảnh bên lầu Hoàng Hạc Hán Dương sông tạnh cây bày, Bãi xa Anh Vũ xanh dày cỏ non. Hình ảnh hàng cây soi bóng sáng rõ mồn một lịch lịch trên dòng sông xanh phẳng lặng như gương và cỏ thơm đôi bờ xanh mơn mởn gợi vẻ đẹp diễm lệ mà im ắng như bức tranh tĩnh vật. Cảnh trống vắng như lầu không, như bầu trời cao. Nhìn chung, khung cảnh đẹp như bức tranh thủy mạc tươi thắm những sắc màu cánh hạc vàng, trời trong mây trắng, sông xanh, cỏ mướt. Đứng trong cảnh đẹp thanh khiết, con người như cũng được thanh lọc tâm hồn. Từ thê thê có nghĩa là xanh tươi mơn mởn nhưng cũng có nghĩa là lạnh buốt buồn bã, tùy theo cách phát âm. Do đó, phong cảnh có nắng ấm, cỏ thơm nhưng buồn vắng lạnh lẽo nên gợi biết bao nỗi niềm cho viễn khách thi nhân. Chiều xuống, cảnh hoàng hôn tĩnh lặng càng thêm buồn vời vợi. Khi ánh nắng yếu dần, cái tươi thắm của bức tranh xuân đã nhường chỗ cho khói sương mờ bao phủ dòng sông, ngày đã hết nên tâm trạng muốn quay về ngôi nhà yêu dấu và làm dâng lên nỗi buồn thương nhớ quê hương Quê hương khuất bóng hoàng hôn, Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai. Quê hương ở đâu sau ánh chiều tà? Quê hương là ngôi làng dấu yêu hay là chốn trở về sau cuộc đời trăm năm chìm nổi đã được suy niệm từ câu thơ đầu? Hết một cuộc đời con người rồi sẽ đi về đâu? Trở về cát bụi hay cõi hư vô? Câu thơ gợi nỗi buồn bâng khuâng, man mác. Bảy câu thơ dọn đường cho chữ sầu buông xuống. Sầu vì hoài cổ, thương kim? hay nhớ quê hương? Bài thơ đẹp về cảnh lẫn tình ý sâu xa nên Nghiêm Vũ đời Nam Tống đã nói rằng “Đường nhân thất ngôn luật thi, đương dĩ Thôi Hiệu Hoàng Hạc Lâu đệ nhất” Thơ niêm luật đời Đường bảy chữ, phải xếp bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu vào hạng nhất. VIẾT ĐOẠN VĂN NGHỊ LUẬN I. Đoạn văn nghị luận là gì? Vai trò của đoạn trong bài văn nghị luận. II. Nội dung và hình thức III. Kết cấu IV. Cách trình bày 1. Diễn dịch 2. Quy nạp 3. Tổng - phân - hợp 4. Vấn đáp 5. Nêu phản đề 6. So sánh 7. Phân tích nhân - quả
tìm ý cho bài văn nghị luận